Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Thị Như Ý

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Sáng kiến kinh nghệm >

KINH NGHIỆM GIÁO DỤC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ M’ĐRẮK

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 2

A. PHẦN MỞ ĐẦU

 

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Trang 3

1) Lí do khách quan.

Trang 3

2) Lí do chủ quan.

Trang 4

II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI        

Trang 5

III. ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trang 5

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 6

B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

 

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 6

1) Một số khái niệm:    

Trang 6

2) Thực trạng của vấn đề:

Trang 7

2.1 Thuận lợi - Khó khăn.

Trang 7

2.2 Thực trạng của việc giáo dục kỷ năng sống và sự cần thiết phải rèn luyện kỷ năng sống.     

Trang 8

II. Một số kinh nghiệm giáo dục kỷ năng sống cho học sinh

Trang 8

1. Kỹ năng giao tiếp.       

Trang 9

2. Kỹ năng học tập hiệu quả .

Trang 10

3. Kỹ năng làm chủ bản thân, tự tin trước tập thể.

Trang 12

4. Kỹ năng tự giác giữ gìn vệ sinh,       rèn luyện thân thể, phòng bệnh theo mùa.

Trang 24

5. Kỹ năng trong lao động cải thiện đời sống.

Trang 24

III. Một số giải pháp thực hiện các kinh nghiệm trên:

Trang 26

IV.  Kết quả đạt được.

Trang 28

V.  Một số kiến nghị - đề xuất.

Trang 28

C - KẾT LUẬN.

Trang 28

Tài liệu nghiên cứu

Trang 29

 

 

LỜI MỞ ĐẦU

          “Học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt”Đó là một nội dung nhỏ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên có vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, do đó phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt, có tư duy độc lập và sáng tạo, cải tiến phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng công tác.

Quả vậy! 15 năm đứng trên bục giảng, là giáo viên trẻ, bản thân không ngừng phấn đấu học hỏi: Học ở bậc thầy cô, học ở trường lớp, học ở đồng chí, đồng nghiệp, học ở sách báo, ở mọi phương tiện và luôn luôn tự hoàn thiện mình.

15 năm công tác thì có 13 năm tôi được phân công làm Giáo viên – Tổng phụ trách đội. Ngày bắt đầu nhận nhiệm vụ tôi không khỏi bân khoăn trăn trở liệu mình có làm được không, có hoàn thành nhiệm vụ được không, bởi vì chuyên môn được đào tạo tại trường CĐSP Đăk Lăk là Lịch sử - GDCD, công tác Đoàn đội chỉ được học vài tiết, không được chuyên sâu… và rồi tôi đã làm, đã duy trì nhiệm vụ Giáo viên – Tổng phụ trách đội cho đến nay.

Trong những năm gần đây hưởng ứng và thực hiện phong trào thi đua:  “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” tôi càng phải tích cực tìm tòi phương pháp tổ chức hoạt động đội sao cho phong phú, thu hút đội viên và phát huy được tính cực của học sinh cũng như góp phần thực hiện nội dung để đạt được mục đích của phong trào; và có thể nói Liên đội trường PTDTNT  Md’rak luôn đạt những thành tích cao, dẫn đầu công tác đội thiếu niên trong huyện nhà.

          Một trong năm nội dung của phong trào được đẩy mạnh thực hiện trong hoạt động công tác đội đó là: Giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Tôi mạo muội trình bày một số kinh nghiệm của mình mà tôi thấy hiệu quả.Rất mong được sự góp ý bổ sung của tổ nghiệp vụ, các đồng chí, đồng nghiệp để đề tài được phong phú hoàn thiện.

GV-TPT : Nguyễn Thị Như Ý

 

ĐỀ TÀI

KINH NGHIỆM GIÁO DỤC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG

CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ M’ĐRẮK

Thực hiện: Nguyễn Thị Như Ý

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Lí do khách quan: 

Nhân dịp khai giảng năm học 2011 – 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gửi thư chúc mừng đến toàn thể CBGVCNV, học sinh, sinh viên trong nước, trong đó có đoạn:

“………….. Năm học 2011-2012, có ý nghĩa rất quan trọng, là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Để thực hiện tốt sứ mệnh “nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam,” cùng với sự góp sức của toàn xã hội, ngành giáo dục cần đổi mới căn bản, ………..; đẩy mạnh thi đua “dạy tốt, học tốt;” nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lịch sử, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, ……. tăng cường đầu tư phát triển giáo dục, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; …………….”

Như vậy ta có thể thấy chủ tịch nước đặc biệt coi trọng vấn đề giáo dục kỷ năng; và càng quan tâm hơn nữa đến đối tượng học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thực hiện chủ đề năm học 2011 – 2012: “Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”do Bộ giáo dục triển khai, đây làvấn đề được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lý giáo dục nói chung và đội ngũ giáo viên nói riêng hết sức quan tâm, chú trọng nâng cao chất lượng cho ngành mình, bộ môn của mình.

          Đồng thời tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” với 05 nội dung lớn:

1.Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.

2.Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh, giúp các em tự tin trong học tập.

3.Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

4.Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh.

5.Tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương.

Nhằm mục đích xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp, hiệu quả.

 

 

 

Vì vậy yêu cầu phải phát huy sự chủ động rèn luyện, sáng tạo của thầy, cô giáo mới có thể chuyển tải các nội dung trên đến với học sinh và hòa cùng với học sinh tạo nên một môi trường thân thiện.

Các nội dung của phong trào thi đua này đều gắn liền với nội dung chương trình công tác Đội thiếu niên, làm tốt phong trào này cũng là làm tốt công tác Đội tại Liên đội trường học; với nhiệm vụ GV- TPT đội, tôi đặc biệt quan tâm nội dung thứ ba: Rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh vì thực hiện nội dung này thật tốt sẽ giúp các em thực hiện các nội dung còn lại một cách dễ dàng.

2. Lí do chủ quan:   

  Theo nhận định của tôi, việc giáo dục kỷ năng sống cho học sinh không phải là một việc làm mới mẽ, trong các trường học phổ thông việc giáo dục kỷ năng sống đã được duy trì thực hiện hàng năm như công tác giáo dục truyền thống, tổ chức phong trào, hoạt động đội thì có chương trình rèn luyện đội viên…có điều nó còn chung chung, chưa có tên gọi riêng, phong trào riêng. Hiện nay những việc đó được đẩy mạnh chú trọng, được xã hội đặc biệt quan tâm vì tình trạng coi thường rèn luyện đạo đức, xem nhẹ thuần phong mĩ tục, có lối sống buông thả của không ít thanh thiếu niên, hay do sức ép lớn về chương trình; về điểm số, hoặc nhiều nguyên nhân khác nhau nó đã bị giảm nhẹ hoặc sao nhãng; hoặc các em quá lúng túng khi đối diện với những tình huống khó khăn trong cuộc sống; các em thiếu kỷ năng sống để xử lý rồi dẫn đến tình trạng sợ hãi, bế tắc, rồi suy nghĩ lệch lạc, rồi dẫn đến những hành động thiếu đúng đắn. Chính vì vậy việc giáo dục kỷ năng được phát động thành phong trào, thành tên gọi, thành điểm nhấn nhằm huy động mọi nguồn lực quan tâm đến lứa tuổi này, lứa tuổi cầm vận mệnh của đất nước trong tương lai.   

Là giáo viên – Tổng phụ trách đội, bản thân tôi xác định mục tiêu giáo dục toàn diện cho đội viên. Đẩy mạnh phong trào rèn luyện theo năm điều Bác Hồ dạy, phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ; phấn đấu trở thành đoàn viên của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; xứng đáng là những công dân Xã hội chủ nghĩa, chủ nhân tương lai của đất nước.

Thực tế khi gần gủi với học sinh, qua những lời tâm sự từ các em, nhất là đối với các em học sinh lớp 6 mới vào trường, tôi thấy rõ sự non nớt của các em, thương các em xa gia đình, nhớ nhà, xa vòng tay chăm sóc của bố mẹ, ông bà, anh chị….và với bản tính rụt rè, thụ động, tự ti….thường thấy ở học sinh là đồng bào dân tộc thiếu số, các em khó có thể hòa nhập, chủ động, tích cực khi học tập, rèn luyện hay tham gia phong trào….hơn thế nữa với những nếp sống, thói quen ở gia đình, ở địa phương khi đến trường nội trú các em khó làm quen với nơi ở mới như khu vệ sinh khép kín, những tiện nghi hiện đại ( điều này cực kỳ ảnh hưởng đến môi trường tập thể). Khi xa cuộc sống gia đình, bắt đầu tự lập và sống trong môi trường tập thể mới thì các em tránh làm sao khỏi những lúng túng, những hoảng hốt….suy cho cùng là do các em quá thiếu kỷ năng sống.

Vậy làm thế nào để thay đổi nếp sống của các em, làm thế nào để giúp các em mạnh dạn hơn, chủ động hơn; giúp các em nhận thức rõ vai trò của người học sinh nội trú đối với buôn làng mình, quê hương, đất nước mình sau này.

Thiết nghĩ việc giáo dục kỷ năng sống cho các em là hết sức cần thiết.

 

II.  MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

Theo quyết định số: 1640/QĐ-TTg, ngày 21 tháng 09 năm 2011 của thủ tướng chính phủ về việc  phê duyệt Đề án Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011 - 2015 xác định mục tiêu chung: thực hiện tốt nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các dân tộc thiểu số, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của miền núi, vùng dân tộc thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Như vậy trong hệ thống các trường PTDT nội trú nói chung và trường PTDT Nội Trú M’drak nói riêng đều tập trung vào mục tiêu đào tạo cán bộ cho các dân tộc thiểu số có chất lượng.

Người cán bộ trong tương lai phải được trang bị đầy đủ hành trang vào đời với kiến thức khoa học và các kỷ năng sống cần thiết.

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm nghiên cứu những khó khăn, vướng mắc, những hạn chế về kỷ năng sống của học sinh, đưa ra một số kinh nghiệm, biện pháp trong việc giáo dục, rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh dân tộc nội trú giúp các em có những kỷ năng cần thiết trong học tập, trong giao tiếp,  trong lao động, kỷ năng lãnh đạo trẻ, cán bộ trẻ….

 

III. ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

*  Đối tượng nghiên cứu: Học sinh ở trường PTDT Nội Trú.

( Lứa tuổi từ 11 đến 16 tuổi)

*  Phạm vi nghiên cứu:

-         Thời gian: 10 năm ( từ năm học 2000-2001 đến năm học 2011-2012)

-         Không gian: Trường PTDT nội trú M’đrăk.

-         Thời gian viết đề tài: Từ tháng 10 / 2011 đến 2/2012.

* Giới hạn nghiên cứu: Kỹ năng sống và các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một vấn đề rất rộng. Trong điều kiện cho phép cùng với khả năng của mình, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp, học tập, xử lý tình huống, tự tin làm chủ tập thể, vệ sinh, lao động thông qua hoạt động Đội ở  trường PTDT Nội Trú M’đrăk.

      

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:Trong đề tài tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
         -  Phương pháp nghiên cứu lý luận:  Đọc, nghiên cứu các tài liệu,văn bản, sách, báo, tạp chí và các tài liệu khác trên mạng Internet để hiểu cơ sở lý luận và tích lũy vốn kiến thức cho bản thân, vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tế ở Liên đội Nội trú M’đrăk.
          - Phương pháp quan sát:
           
+  Quan sát học sinh: Thông qua các hoạt động học tập, ăn ở, sinh hoạt …ở trường Nội trú.

            + Quan sát giáo viên: Dự giờ tiết HĐNGLL và quan sát các buổi có các lớp tổ chức ngoại khóa do GVCN hướng dẫn.
            - Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp trò chuyện với giáo viên và học sinh để tìm hiểu những khó khăn, tâm tư nguyện vọng, sự cần thiết của việc rèn luyện kỷ năng sống như thế nào.
           - Phương pháp khảo nghiệm: Để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi của các biện pháp đã thực hiện.
           - Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm: Tập hợp lại những kinh nghiệm nghiên cứu và minh chứng thực tiễn đi đến đề xuất các giải pháp.

B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1. Một số khái niệm:

Theo tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức.

Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết.

Như vậy có thể hiểu Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người.

Rèn luyện kỹ năng sống là quá trình đưa nhận thức (qua kiến thức và thái độ) thành hành động (hành vi tích cực), giúp giải quyết những nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả (cách sống tích cực trong xã hội hiện đại).

Việc giáo dục rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh ở trường PTDT nội trú chính là thông qua hoạt động giáo dục, người giáo viên chuyển tải đến học sinh những kỷ năng cần thiết; học sinh nhận thức, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm, vận dụng vào thực tế, vào cuộc sống. Giúp học sinh có được vốn sống phong phú, đa dạng, vững vàng hơn ở những chặng đường tiếp theo.

2. Thực trạng của vấn đề:

2.1 Thuận lợi – khó khăn:

a/ Thuận lợi:

Trường PTDT Nội trú M’đrăk có bề dày truyền thống, là ngôi trường luôn đi đầu các phong trào thi đua.

Hoạt động công tác Đội thiếu niên rất được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, sự ủng hộ, động viên tinh thần kịp thời của ban giám hiệu nhà trường. Nhà trường đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, hổ trợ chuyên môn, chỉ đạo phối kết hợp nhịp nhàng giữa các đoàn thể trong nhà trường đã làm cho phong trào Đội thiếu niên khá sôi nổi.

Cơ sở vật chất trong nhà trường khá đầy đủ, số lượng học sinh ít, có 4 lớp / 4 khối với tổng số học sinh bình quân hàng năm là 150 em nên thuận lợi cho việc quản lý, kiểm tra đánh giá việc rèn luyện của các em. Các em được ăn ở tại chỗ nên đảm bảo được các điều kiện, thời gian để phục vụ cho sự rèn luyện của các em.

Đối với Tổng phụ trách đội, mặc dù là phụ trách không chuyên, song nhờ sự tràn ngập của công nghệ thông tin, của các sách báo hướng dẫn….chúng ta có thể tìm thấy những gì cần thiết trên mạng Internet, chúng ta có thể học tập các mô hình hay, cách làm tốt của các trường học trong mọi miền đất nước, tham gia các diễn đàn liên quan đến công tác đội để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm…được nhà phân công giữ nhiệm vụ nhiều năm liên tục nên cũng tích lũy kha khá kinh nghiệm.

Sự tạo điều kiện, lòng nhiệt tình của giáo viên chủ nhiệm và các đồng chí, đồng nghiệp, của các em học sinh đã góp phần tạo nên thành công cho công tác đội.

Học sinh vào học ở trường Nội trú phải qua xét tuyển hoặc thi tuyển với những tiêu chuẩn khá cao; phần lớn các em là học sinh khá, giỏi; đạo đức tốt ở cấp tiểu học. Bản tính ngoan ngoãn, kỷ luật, và ngày càng thể hiện tính chủ động, tích cực trong hoạt động phong trào.

b/ Khó khăn:

Nghiệp vụ công tác đội của Tổng phụ trách còn hạn chế, không được đào tạo chuyên môn bài bản. Do đặc thù của nhà trường ít lớp ( chỉ có 04 lớp với hơn 150 học sinh) nên giáo viên phải đứng lớp, làm công tác đội là Bán chuyên trách, ngoài ra còn được nhà trường phân công làm thư ký hội đồng cho đủ số tiết qui định vì vậy công việc hơi phân tán, một phần gây khó khăn cho bản thân tập trung nghiên cứu chuyên môn.

Kỷ năng của một số giáo viên - anh chị phụ trách chi đội còn hạn chế, thiếu năng động, sáng tạo, ít quan tâm đến công tác đội.

Hơn nữa điều kiện hoàn cảnh gia đình là Tổng phụ trách nữ, con còn nhỏ nên khó tập trung đầu tư thời gian cho phong trào chung.

2.2 Thực trạng của vấn đề và sự cần thiết phải giáo dục rèn luyện kỷ năng sống:

Trước những thực trạng đã nêu trên, ta nhận thấy việc giáo dục rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh là việc làm cần thiết, đặc biệt đối với học sinh các trường PTDT nội trú chúng ta cần phải quan tâm tăng cường công tác giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh vì ở lứa tuổi này:

- Đối tượng học sinh dân tộc trong trường có khoảng 10 dân tộc khác nhau, trình độ không đồng bộ, bất đồng về ngôn ngữ, các em bắt đầu một cuộc sống mới, xa gia đình, sống tự lập, khác hoàn toàn với những thói quen, nếp sống ở nhà, xa người thân, bạn bè khi mới 12 tuổi.

- Mọi việc đều lạ lẫm, bở ngỡ với các em, thầy cô mới, bạn bè mới, cách sống mới, và cả phương pháp học tập cũng mới…Các em thật sự khó khăn khi phải giao tiếp với nhiều dân tộc khác nhau, vốn tiếng Việt đã hạn chế lại phải nghe và phân tích tiếng nói của các thầy cô ở nhiều vùng miền khác nhau như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Khánh Hòa....có khi cả tiết học các em chỉ ngồi nghe thế chứ không hiểu gì.

- Phần lớn học sinh dân tộc có tính tự ti, nhút nhát, thiếu tự tin, ngại nói, ngại tiếp xúc… nên ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào chung.

- Cũng có nhiều em thích tìm tòi, học hỏi cái mới, điều lạ, nhưng không phân biệt nó là tốt hay xấu, và lúng túng khi gặp những tình huống bất ngờ, khó khăn…

- Cuộc sống thiếu thốn tình cảm cha mẹ, người thân, các em gắn bó với nhau từ tình bạn rồi nảy sinh tình cảm rồi có hành vi hết sức bồng bột, phát triển tình yêu nam, nữ dẫn đến có quan hệ không đúng mực trong quan hệ khác giới.

- Nhiều em rất tích cực và có tinh thần trách nhiệm với tập thể song lại rất bí trong khâu tổ chức hoạt động cho lớp.

II. MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KỶ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC NỘI TRÚ:

Trước những thực trạng trên, nhà trường đã triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm khắc phục khó khăn về nhận thức của học sinh, giúp các em vượt qua để có nền nếp tự học, tự lập, sáng tạo và chủ động trong học tập. Các thầy cô giáo bên cạnh dạy chữ còn dạy kỹ năng sống, rèn nếp sống, dạy cách chung sống với cộng đồng cho con em các đồng bào dân tộc, tận tâm, tận lực như người cha, người mẹ để nuôi dưỡng và chăm lo cho các em.

Là thành viên trong hội đồng nhà trường, được phân công phụ trách công tác Đội, tôi luôn trăn trở, tìm tòi cách làm mới, tham khảo, học tập cách làm hay vận dụng phù hợp vào thực tế của Liên đội nhằm đẩy mạnh việc giáo dục rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh. Trong đề tài này tôi trình bày một số kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện trong những năm qua được các cấp đánh giá đạt hiệu quả cao.

Những kỹ năng sống mà chúng tôi tập trung giáo dục học sinh trong những năm qua đó là:

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng học tập hiệu quả …

- Kỹ năng làm chủ bản thân, tự tin trước tập thể

- Kỹ năng tự giác giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh…

- Kỹ năng trong lao động cải thiện đời sống.

 

1. Đối với kỹ năng giao tiếp:

Nhà trường xác định đây là việc làm cần thiết, dứt khoát tạo thói quen cho các em khi mới vào trường. Tất cả CBGVCNV đều phải bắt tay vào giáo dục các em từ cách chào hỏi người lớn đến quan hệ với bạn bè trong lớp, xưng hô với các anh chị lớp trên…triển khai kết nghĩa giữa các chi đội với nhau, để anh chị lớp trên kịp thời hướng dẫn các em đi vào lối sống kỷ luật, tôn trọng tập thể.

Trong năm học này chúng tôi đã triển khai xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa trong học đường, dưới sự định hướng của giáo viên, các em tự nhìn nhận thực trạng về ứng xử, giao tiếp qua các mối quan hệ trong nhà trường, trên cơ sở các em đề xuất các nội dung để xây dựng nên qui tắc ứng xử văn hóa; sau đó hội đồng nhà trường họp nhận xét, góp ý, chốt lại tất cả vấn đề, thống nhất nên qui tắc ứng xử chung, rồi tiến hành làm thành bảng treo ở nơi dễ quan sát nhất.

 

QUY TẮC ỨNG XỬ VĂN HÓA TRONG TRƯỜNG NỘI TRÚ

1. Ứng xử của học sinh với:

 

1.1.Học sinh:   

-Tôn trọng, đoàn kết, thân thiện

- Thông cảm, chia sẻ, giúp đỡ  

- Khiêm tốn, thật thà, trung thực

- Dũng cảm trong chống hành vi sai trái, hòa nhã trong cuộc sống

- Tự rèn luyện tích cực, sáng tạo để cùng tiến bộ

1.2. Cán bộ, Giáo viên, nhân viên:  

 -  Lễ phép, kính trọng

 -  Chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện lời dạy của thầy,cô giáo

1.3.Khách:

 -  Kính trọng, hiếu khách, tận tình

-  Mạnh dạn, tự tin, học hỏi

1.4.Môi trường, cơ sở vật chất:

- Bảo vệ, chăm sóc môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn

- Giữ gìn và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất.

 

2. Ứng xử của giáo viên, cán bộ, nhân viên với:

2.1.Học sinh:          

- Tình thương và trách nhiệm

- Gương mẫu, chuẩn mực, kỉ cương

- Thân thiện, công bằng

- Lắng nghe, chia sẻ, tôn trọng, động viên, kỉ luật tích cực

 - Nắm bắt thông tin, xử lí kịp thời

 - Quan tâm hơn đến HS có hoàn cảnh đặc biệt

2.2.Đồng nghiệp:      

  -Đoàn kết, lịch sự, không xúc phạm

  -Tôn trọng, hợp tác, hỗ trợ, cùng tiến bộ

 -Thẳng thắn, chân thành, độ lượng

2.3.Phụ huynh HS:       

 - Gắn bó thường xuyên, kịp thời, chính xác 

 - Lịch sự, hòa nhã, không phiền hà

  - Hướng dẫn, phối hợp giáo dục, giải thích.

2.4.Khách

 - Chào hỏi niềm nở      

 - Hiếu khách, lịch sự 

- Lắng nghe, suy nghĩ vận dụng

 Nhằm giúp các em mạnh dạn, tự tin, hòa nhập, chúng tôi đã tổ chức giao lưu với các trường THCS bên ngoài như trường THCS Ngô Quyền, trường THCS Hùng Vương vào các dịp tết  trung thu, chuẩn bị hội khỏe Phù Đổng… với các hoạt động thi các trò chơi dân gian, diễn văn nghệ, TDTT…qua đó các em thêm tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp.

   

Giao lưu với trường THCS Ngô Quyền

   

Giao lưu TDTT với trường THCS Hùng Vương

2. Đối với Kỹ năng học tập hiệu quả:( Đã triển khai thực hiện trong năm học 2011-2012)

Trước hết hướng dẫn các em xây dựng lịch học/thời khoá biểu cá nhân (Hay kế hoạch học tập của riêng HS) và thực hiện theo đúng những gì mà HS đã đặt ra.  Một lịch học/thời khóa biểu tốt, được lên một cách cẩn thận có thể được xem là ‘cứu tinh’ của các em! Các em cũng cần học cách lập một thời khóa biểu đáp ứng nhu cầu của mình, điều chỉnh nó khi cần thiết.

Hướng dẫn cho các em biết cách làm thế nào để sử dụng thời gian hiệu quả. Thời gian là nguồn lực có giá trị nhất mà một học sinh có khi ngồi trên ghế nhà trường. Tuy nhiên, phần lớn các học sinh đã sử dụng thời gian hoang phí. Tận dụng tối đa thời gian tự học trên lớp, ngoài ra vào các giờ rãnh rổi các em có thể tự học thêm một số nơi như thư viện, phòng đọc sách, phòng học hay phòng riêng.

Hướng dẫn các em làm quen với phương pháp tự học: Đặt câu hỏi – Hỏi để học. Các vấn đề quan trọng cần phải học thường là câu trả lời cho các câu hỏi đó. Các câu hỏi phải dẫn đến các thông tin trọng tâm, cần nhấn mạnh vào nội dung cần học như cái gì, tại sao, làm thế nào, khi nào, ai và ở đâu. Hãy tự hỏi mình các câu hỏi khi đang đọc hay trước khi học. Khi các em trả lời các câu hỏi này, các em sẽ thấy được ý nghĩa của tài liệu/sách mà các em đang học và việc học tập sẽ trở nên dễ dàng hơn vì những ấn tượng mà các em có được trong quá trình này. Đừng ngại viết ra các câu hỏi của mình trên lề của vở, sách giáo khoa hay bất cứ nơi nào mà các em thấy cần thiết.

Hướng dẫn các em cách đọc như thế nào cho thật hiệu quả. Khi đọc, hãy đọc một cách tích cực và chủ động. Đọc để trả lời các câu hỏi mà các em tự hỏi mình hay các câu hỏi của giáo viên, hay các tác giả sách giáo khoa đặt ra, để ý và tập trung vào những chỗ in đậm hoặc in nghiêng, cố gắng đọc các bảng biểu, sơ đồ và hình ảnh minh họa.

Khi đọc, cần tìm ý chính!  Mỗi bài học đều có nội dung trọng tâm thường chứa một ý tưởng chính và xuyên suốt nội dung bài học; Hãy tạo thói quen tìm các ý tưởng chính trong từng bài học. Đọc xong ý chính, hãy phát triển các chi tiết quan trọng! Khi đọc, đừng cố đọc to, cố gắng đọc nhanh và nhớ lại nhiều hơn.

Hướng dẫn các em cách ghi chép hiệu quả:

Giống như việc đọc, việc ghi chép cũng là một kỹ năng cần phải được học. Các em cần trang bị cho mình một quyển sổ tay, tập thói quen ghi chép những gì các em cho là quan trọng và cần ghi nhớ như những kinh nghiệm, những nhận định, những công thức….rồi phải học cách giữ các ghi chép của mình rõ ràng và khoa học.. lưu ý những lúc rãnh rỗi thì đọc lại những vần đề đã ghi, nếu không sau 3-4 ngày những ghi chép đó hoàn toàn vô dụng.

Kết quả của phong trào học tốt – năm học 2011 - 2012: Tổng số HS: 156 em

Tháng

Hoa điểm giỏi

Giờ

học tốt

Tuần học tốt

 

Chất lượng

học lực học kỳ I

Loại

Số em

Tỉ lệ

8+ 9

227 điểm

475 giờ

14 tuần

Giỏi

11

7.3

10

146 điểm

427 giờ

13 tuần

Khá

59

39.3

11

151 điểm

396 giờ

12 tuần

Trung bình

80

50.7

12

161 điểm

403 giờ

14 tuần

Yếu

0

 

1+ 2

316 điểm

780 giờ

24 tuần

Kém

0

 

         

Kết quả học sinh giỏi các môn văn hóa cấp huyện, cấp tỉnh:

Năm học

Cấp huyện

Cấp tỉnh

Số hs lớp 9

Số em dự thi

Số em đạt

2004-2005

29

07 em

03 em

 

2005-2006

27

05 em

05em

 

2006-2007

26

08 em

04 em

 

2007-2008

27

05 em

03 em

Được dự thi tỉnh

2008-2009

29

09 em

06 em

01 em đạt giải Ba

2009-2010

31

09 em

07 em

 

2010-1011

33

11 em

10 em

 

2011-2012

36

16 em

10 em

Được dự thi tỉnh

3. Rèn kỹ năng làm chủ bản thân, tự tin trước tập thể:

Đây là kỹ năng hết sức quan trọng đối với các em đội viên là học sinh dân tộc thiểu số, kỷ năng không thể thiếu đối với người cán bộ lãnh đạo tương lai, nếu không thực hiện tốt kĩ năng này các em sẽ gặp nhiều khó khăn khi giao tiếp với bạn mới, với thầy cô mới. Vì vậy, nhà trường đã gắn với hoạt động của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; để chỉ đạo kiện toàn các tổ chức, đội nhóm, câu lạc bộ. Ở liên đội trường có:  

- Câu lạc bộ phát thanh măng non.

- 5 nhóm yêu thích TDTT : Cầu lông, đá cầu, bóng bàn, bóng chuyền, điền kinh, có phân nhóm trưởng quản lý.

- Có nhóm kỷ năng về trống đội, nghi lễ đội.

- Có đội văn nghệ 20 em duy trì tập luyện thường xuyên.

- Có Ban chỉ huy Liên đội, chi đội, ban cán sự tích cực, trách nhiệm.

- Có đội Thanh thiếu niên xung kích giữ gìn trật tự trong trường…

* Đối với kỷ năng tổ chức hoạt động đội nhóm: Nhằm giúp các em có kỷ năng  xây dựng kế hoạch hoạt động, điều hành đội nhóm, phương pháp làm việc của Tổng phụ trách đối với các đội nhóm này như sau:

Bước 1: Lựa chọn thành viên có khả năng phù hợp với các hoạt động.

Bước 2: Thành lập đội, nhóm, phân công nhiệm vụ.

Bước 3: Tập huấn phương pháp làm việc.

Bước 4: Các nhóm xây dựng kế hoạch, qui chế hoạt động, lịch làm việc của từng đội.

Bước 5: Các đội nhóm tiến hành thực hiện theo kế hoạch và báo cáo về Tổng phụ trách hàng tháng.

Như vậy tất cả các đội nhóm đều có danh sách, kế hoạch, qui chế hoạt động. Dưới sự hướng dẫn của Tổng phụ trách đội, các em được tập huấn phương pháp làm việc, được trang bị kỷ năng, nghiệp vụ, được hoạt động thực tế, được đề xuất ý kiến, phương pháp làm việc hay, phù hợp, được đánh giá, nhận xét hoạt động của tập thể. Ví dụ như hoạt động của Câu lạc bộ Phát thanh măng non: Có khoảng 20 thành viên, các em tự xây dựng kế hoạch, qui chế hoạt động, biên tập chương trình, viết tin bài, và tiến hành phát thanh hàng tuần, hàng tháng với các nội dung đưa tin tức, nêu gương người tốt việc tốt, kể chuyện Bác Hồ, tuyên truyền lịch sử các ngày lễ trong tháng…. Thực tế cho thấy các em ngày càng mạnh dạn hơn, tự tin hơn, chủ động hơn và đạt hiệu quả cao qua các kỳ thi VHVN-TDTT do các cấp tổ chức, hơn nữa các em ngày càng phát huy vai trò tự quản của mình.

   

Đội phát thanh măng non chi đội 8

* Đối với kỷ năng dẫn chương trình, tổ chức hội thi :

Trong những năm học 2007-2008 đến năm học 2011 -2012 là thành viên của Ban chỉ đạo Hoạt động ngoài giờ lên lớp tôi đã tham mưu và được nhà trường cũng như Ban chỉ đạo nhất trí tổ chức thi HĐNGLL (chủ yếu chấm các tiêu chí: xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình, kịch bản và người dẫn chương trình); tham mưu Xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp với cách làm mới như ngoài tiết hoạt động ngoài giờ định kỳ hàng tháng 4 khối lớp tiến hành riêng ở lớp mình thì phân cho một lớp tổ chức hoạt động chung và mời các lớp khác đến tham dự.

Thực hiện kế hoạch HĐNGLL của nhà trường. Cứ đến thời điểm của lớp nào thì lớp đó xây dựng chương trình để tổ chức chung. Trong hoạt động này các em hoàn toàn làm chủ chương trình (đương nhiên phần nội dung phải do GVCN hướng dẫn, duyệt nội dung). Tùy vào sự sáng tạo của các em để tổ chức chương trình nhưng nét nội dung nổi bật là “Học mà chơi – Chơi mà học” qua chương trình này, các em được  biên tập, được dẫn chương trình, được điều hành, được giải trí, được khắc sâu kiến thức đã học trên lớp, được ca hát, được thi đua, được thể hiện mình….

   

Các em Chi đội 8 tổ chức chương trình “ Học mà chơi – Chơi mà học”

Để các em nắm chắc cách thức tổ chức hoạt động, cách thức tổ chức một chương trình ngoại khóa, tôi đã hướng dẫn các em các bước thực hiện như sau:

 

+ Bước 1: Xây dựng kế hoạch: thể hiện được mục đích yêu cầu, thời gian, địa điểm, nội dung, hình thức tổ chức, dự trù kinh phí, phân công chuẩn bị, tham mưu với GVCN.

+ Bước 2: Xây dựng phần nội dung chương trình, từ khái quát đến chi tiết.

Phần này GVCN lớp hướng dẫn các em đặt câu hỏi, soạn đáp án, tham khảo ý kiến các thầy cô giáo bộ môn về kiến thức định đưa vào phần thi, đảm bảo độ chính xác.

+ Bước 3: Xây dựng kịch bản: để chủ động khi dẫn chương trình.

Phần này cần lưu ý câu từ, trình bày ngắn gọn, súc tích dể hiểu, đặt ra các phương án khi có sự thay đổi tình huống.

          Sau khi xong hết các phần chuẩn bị thì Ban chỉ huy chi đội trình lên TPT duyệt lại, nhất trí cho triển khai, thực hiện.

Dưới đây là minh chứng phần xây dựng kế hoạch, nội dung, kịch bản của của các em học sinh lớp 9:

 

( Phần xây dựng kế hoạch)

     ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH

   LIÊN ĐỘI TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ M’DRAK

                                    CHI ĐỘI 9

M’đrăk, ngày 25  tháng 10  năm 2011

         

KẾ HOẠCH TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH

“HỌC MÀ CHƠI – CHƠI MÀ HỌC”

THÁNG 11 - NĂM HỌC 2011 -2012

 

    Kính gửi :   -  Ban giám hiệu nhà trường.

                       -  TPT đội, Phụ trách các chi đội, BCH chi đội 6,7,8.

                       

Thực hiện chương trình công tác Đội tháng 11 năm học 2011 -2012.

          Thực hiện kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp của nhà trường và được sự chỉ đạo của Ban HĐNGLL, chi đội 9 xây dựng kế hoạch tổ chức chương trình “ Học mà chơi- Chơi mà học” tháng 11 cụ thể như sau :

I/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU:

            Đẩy mạnh phong trào hoạt động vui chơi trong học tập, góp phần hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực”.

Thông qua hoạt động nhằm tạo sân chơi, tạo không khí vui tươi phấn khởi trong học tập, rèn luyện và sáng tạo cho học sinh. Qua đó giáo dục ý thức, trách nhiệm đội viên trong nhà trường, góp phần rèn kỷ năng làm chủ tập thể, chủ động, tích cực.

II/ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH:

1. Tên hội thi:“ Học mà chơi- Chơi mà học” với chủ đề: “ Tôn sư trọng đạo”.

2. Nội dung thi:Kiến thức các môn học trong chương trình lớp 9 từ đầu năm học đến nay, các câu ca dao tục ngữ, các bài hát ca ngợi nghề dạy học, thầy cô giáo, mái trường, một số trò chơi dân gian.

3.Thể lệ cuộc thi:  

3.1. Cả lớp chia thành 2 đội chơi ( Các đội tự đặt tên cho đội mình)

3.2. Nội dung gồm 4 phần thi chính:

* Phần thi “Bạn với kiến thức”.    Mỗi đội khởi động với gói câu hỏi (10 câu). Mỗi câu 10đ, mỗi câu trả lời trong 5 giây. Trả lời đúng 10 câu được 100đ.

*Phần thi “Ngợi ca thầy cô”

  1. Tìm ca dao, tục ngữ nói về nghề dạy học, ca ngợi thầy cô giáo: Mỗi đội tìm và ghi nhanh vào bảng phụ các câu ca dao tục ngữ, trong thời gian 5 phút, mỗi câu đúng được 10 điểm, sau khi các đội lên trình bày, BTC sẽ mời GVBM lên thẩm định kết quả.
  2. b.      Tài năng văn nghệ với chủ đề về thầy cô: Hai đội chơi cử 2 đội trưởng lên Oẳn tù tì để dành phàn chơi trước. Thời gian chơi trong 10 phút các đội sẽ lần lượt lên trình bày bài hát trong đó có từ Thầy hoặc cô. Qui định không được hát trùng bàt hát, đội này thi xong thì đội kia lên thi ngay, quá 5 giây mà không có bài hát thì bỏ qua, đội kia sẽ hát tiếp, không nhất thiết hát hết bài nhưng phải được ít nhất 5 câu. Mỗi bài hát đúng được 10 điểm.

* Phần chơi “ Giải trí cùng bạn”

  1. Dành cho các bạn trong lớp: Với trò chơi :đố vui

Mỗi đội cử 2 bạn( 01 nam, 01 nữ) kẹp quả bóng bay vào giữa đầu 2 bạn, tiến từ vạch xuất phát đến chỗ đặt lá cờ và nhận 01 câu hỏi ( Nếu phạm qui làm bóng rơi hoặc bể thì thực hiện lại từ đầu) sau đó kẹp bóng đến chổ người DCT và trả lời câu hỏi, Phần này dành cho 4 cặp chơi với 2 lượt chơi. Mỗi lượt chơi 2 cặp, cặp nào về đích trước thì được trả lời câu hỏi, trả lời đúng được nhận một phần quà của chương trình.

  1. Dành cho khán giả: “Trò chơi đuổi hình bắt chữ”.

DCT sẽ cho khán giả xem bức tranh, yêu cầu khán giả suy đoán là câu thành ngữ gì. Nếu đoán đúng sẽ được nhận một phần quà của chương trình.

Phần này có 4 bức tranh.

* Phần thi: “ Ong tìm chữ”

Hình thức giải ô chữ: Gồm có 8 hàng ngang và 01 hàng dọc gồm 8 chữ cái.

Từ chìa khóa cho hàng dọc: Nhân vật nổi tiếng thời nhà Trần.

Thời gian suy nghĩ và trả lời từ hàng ngang là 15 giây. Sau 15 giây mà không có câu trả lời thì chuyển đội khác chọn hàng ngang khác.

Giải đúng từ một hàng ngang được 20 điểm.

Tìm ra ít nhất 4 từ hàng ngang mới được đoán từ hàng dọc.

Tìm đúng từ hàng dọc được 40 điểm.

Nếu đội nào phạm qui thì dừng cuộc chơi.

Chung cuộc: Tổng điểm các phần thi của đội nào nhiều hơn sẽ thắng cuộc.

III/ THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, THÀNH PHẦN:

a. Thời gian: 14 giờ, ngày 07/11/2011

b. Địa điểm:Tại nhà đa chức năng.

c. Thành phần:

- Khách mời: các thầy cô giáo BGH, GVBM, GVCN các lớp, các lớp 6,7,8.

- Tập thể lớp 9 được chia thành 2 đội thi.

IV/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Thành phần chỉ đạo :
                        Cô nguyễn Thị Như Ý:                     Tổng phụ trách đội

Cô Bùi Thị Hòa:                               GVCN – Phụ trách chi đội

2. Mời cố vấn nội dung: Các giáo viên bộ môn.

3. Tổ chức thực hiện chương trình :

-         Bạn Lù Thị Lơ – Lớp trưởng – Chi đội trưởng

-         Bạn Phùng Thị Ngọc

-         Bạn Nông Thị Phượng

4. Chuẩn bị:

- Nội dung chương trình: Lơ, Ngọc, Phượng

- Viết giấy mời: Phượng, Lơ

- Dẫn chương chương trình: Ngọc

- Tổ thư ký: Phượng, Lơ  

- Trang trí, âm thanh, sắp xếp hội trường: Tú, Tin, Ninh, Dồng

- Hậu cần: Nước, phần thưởng, hoa, bong bóng thổi sẳn, bảng phụ..: Liết, Rom, Bé

- Bảng tên các đội thi: các đội tự làm, tự đặt tên.

5. Cơ cấu giải thưởng:

             - 01 giải nhất : phần quà lớn

             - 01 giải nhì   : phần quà nhỏ

            - Ngoài ra còn có phần thưởng là một gói Osin dành cho khán giả trong phần giải trí.

6. Kinh phí: Trích từ quĩ chi đội.

Trên đây là kế hoạch tổ chức chương trình Học mà chơi- Chơi mà học do lớp 9 thực hiện.

 

Duyệt của TPT đội                                                  TMBCH CHI ĐỘI

                                                                         &


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Thị Như Ý @ 12:54 11/05/2013
Số lượt xem: 455
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến